• Lưu ý rằng: Quý vị hãy chia sẻ link của bài viết, video đến người thân, bạn bè để khi độc giả thắc mắc thì We Are 1 kịp thời hỗ trợ. Không copy rồi đăng lại tránh mất các dòng tin đính kèm màu xanh (link); cũng là vi phạm bản quyền. Mời đọc kỹ “Tuyên bố bản quyền” ở cuối bài để không mất lòng nhau và hối tiếc khi chúng tôi kiện bản quyền (kể cả cá nhân và các kênh truyền thông). Xin đa tạ!
Sau khi Hồ sơ Epstein được công bố đầu năm 2026, mạng xã hội của Mỹ dậy sóng với đủ loại thông tin, hình ảnh ghê rợn và cảm xúc phẫn nộ. Tuy nhiên, đằng sau những tội ác đen tối gây ám ảnh đó, điều chúng ta thực sự cần tìm là: rốt cuộc mạng lưới phía sau Epstein là gì? Mục đích cuối cùng của chúng là gì?
Hồ sơ Epstein đã cung cấp rất nhiều thông tin hữu ích, giống như một cánh cửa sổ nhỏ nhưng rất rõ ràng để nhìn vào thế giới của ma quỷ. Nhưng với tổng cộng 6 triệu trang tài liệu, chúng quá nhiều và quá choáng ngợp cho một người bình thường, thậm chí cả các nhà báo. May mắn thay We Are 1 đã được giới chính nghĩa Mỹ chia sẻ một số bài viết của các nhà sử học. Nhóm nghiên cứu này đã dành nhiều năm để nghiên cứu về thế lực ngầm, kết nối các mắt xích, ghi chú về các cá nhân cùng vai trò của họ trong mạng lưới. Cho đến sau khi Hồ sơ Epstein được tiết lộ, họ đã bổ sung hoàn thiện bức tranh lớn về lịch sử của những kẻ thao túng thế giới trong khoảng 200 năm.
Kho tài liệu này là rất đồ sộ, vì thế để phù hợp với đa số quý độc giả, We Are 1 sẽ lược dịch và chọn những phần quan trọng nhất gửi tới quý vị.
Dưới đây chúng ta sẽ bàn về vai trò của Epstein trong “mạng lưới đặc vụ của nhà Rothschild”.
—***—
Năm 2016, nhà xuất bản De Gruyter (Đức) phát hành một bài luận của giáo sư lịch sử Rainer Liedtke mang tên “Đặc vụ cho nhà Rothschild: Một mạng lưới thông tin thế kỷ 19.” Dựa trên Kho lưu trữ Rothschild tại London, gồm thư từ của hơn 100 đặc vụ làm việc cho các chi nhánh khác nhau của nhà Rothschild, Liedtke đã ghi lại một chiến dịch tuyển dụng và thu thập tình báo trải dài khắp châu Âu và vươn tới tận Mỹ Latin trong thế kỷ 19.

Theo mô hình được mô tả trong bài luận, các đặc vụ được bố trí ở những nơi ngân hàng Rothschild không có văn phòng thường trực. Họ thực hiện giao dịch kinh doanh, thu thập tình báo chính trị và kinh tế rồi chuyển thông tin về. Nhờ đó nhà Rothschild có thể ra quyết định trước các đối thủ và thường là trước cả các chính phủ.
Theo Liedtke, thứ ngày nay gọi là “giao dịch nội gián” thì thời đó là “thông lệ phổ biến trong tài chính thế kỷ 19 và nằm trong gói thù lao của nhân viên các tổ chức tài chính”. Các đặc vụ không chỉ được dung thứ cho chuyện này, họ còn được trả công thông qua đó.
Tiêu chí tuyển dụng tự nó đã nói lên nhiều điều. Niềm tin là trên hết, và có hai con đường để có được niềm tin: là người thân trong gia tộc, hoặc đã phục vụ trong một trong các ngân hàng của Rothschild đủ lâu. Hôn nhân là lựa chọn được ưa chuộng nhất, chúng sẽ tạo ra “những đại diện đáng tin cậy đảm trách lâu dài” tại các địa điểm kinh doanh trọng yếu.
Tuy nhiên có một ranh giới bất khả xâm phạm: những đặc vụ không bao giờ được bước vào vòng tròn ra quyết định của gia tộc. Các đặc vụ duy trì lợi ích kinh doanh riêng, đồng thời thu lợi đáng kể từ mạng lưới của nhà Rothschild.
Các đặc vụ là những mắt xích thiết yếu, nhưng họ sẽ không bao giờ được đi vào vòng tròn trung tâm.
Chỉ những người sinh ra trong nhà Rothschild mới được tin tưởng hoàn toàn. Khi xem xét để mở ngân hàng tại một thành phố mới, “tiêu chí cốt yếu” là liệu có một người Rothschild chịu chuyển đến đó sống hay không.
Liedtke cũng ghi lại chính sách đa dạng hóa nhân sự. Dù là người Do Thái, nhà Rothschild vẫn chủ động tuyển dụng đặc vụ không phải người Do Thái. Bởi vì một mạng lưới đồng nhất sẽ bị bó hẹp và trùng lặp phạm vi các vòng tròn xã hội.
Khi các đặc vụ xuất thân từ nhiều nơi khác nhau, họ có thể giúp nhà Rothschild mở cánh cửa vào những phòng khách quyền quý, các bộ ngành và sàn giao dịch mà một mạng lưới thuần Do Thái không thể chạm tới. Những đặc vụ đôi khi được cử đến nơi xa lạ, nơi họ không có quan hệ nào trước đó. Điều này đảm bảo họ sẽ chỉ trung thành với nhà Rothschild, không bị ràng buộc bởi bất kỳ mối quan hệ nào tại địa bàn hoạt động.
Theo thời gian, kỳ vọng của nhà Rothschild cũng thay đổi. Những thập kỷ đầu, giá trị của mạng lưới nằm ở dữ liệu thị trường thô – giá hàng hóa, tỷ giá, lịch trình tàu thuyền. Từ giữa thế kỷ 19, khi điện báo phổ biến hóa các loại thông tin đó, tầm quan trọng của đặc vụ chuyển sang lĩnh vực chính trị chiến lược: ai có thể lập chính phủ, bộ trưởng nào có thể tiếp cận được, chính sách nào đang được bàn thảo trước khi công bố.
Hệ thống đặc vụ này cũng có điểm yếu. Trong kho lưu trữ có ghi lại câu chuyện của August Schönberg – sau này gọi là August Belmont (1813-1890) – được cử đến New York rồi tự xưng là đặc vụ nhà Rothschild trên Phố Wall mà không hề được cho phép. Khoảng cách giữa New York và London khiến việc kiểm soát trở nên bất khả thi. Belmont không thể bị loại bỏ, và gia tộc Rothschild đành phải chấp nhận để mặc một đặc vụ đã nổi loạn. Nhà sử học Liedtke coi Belmont là thất bại đáng kể duy nhất của cả hệ thống.

Một ví dụ điển hình
Trong quyển sách “Vàng và Sắt” (Gold and Iron, 1977), học giả Fritz Stern đã đưa ra một ví dụ chi tiết về mô hình này trong thực tiễn.
Vào thế kỷ 19, Gerson von Bleichröder xuất thân trong một gia đình ngân hàng ở Berlin, Đức và đóng vai trò một “chi nhánh ở Berlin của ngân hàng Rothschild”. Bleichröder sau này đã trở thành người tư vấn tài chính cá nhân của thủ tướng Bismarck: quản lý danh mục đầu tư của thủ tướng, thay thủ tướng hối lộ các quan chức, tài trợ các cuộc chiến tranh và vượt qua phe đối lập trong quốc hội và làm cầu nối giữa tài chính châu Âu với nhà nước Phổ. Mối quan hệ lâu bền của Bleichröder với nhà Rothschild khiến dịch vụ của ông có giá trị gấp đôi – với cả Bismarck lẫn nước Đức.

Tuy nhiên, Bleichröder không bao giờ được bước vào vòng trong của quyền lực. Sau khi Bismarck qua đời, Bleichröder “biến mất khỏi lịch sử nước Đức như một hòn đá bị ném xuống nước” – đặc vụ thì biến mất nhưng mạng lưới của nhà Rothschild vẫn tồn tại.
Dấu ấn của Bleichröder vươn xa hơn nhiều so với danh mục đầu tư của Bismarck. Sau Chiến tranh Pháp-Phổ (1870-71) và Pháp thua trận, Bismarck cử Bleichröder đến cung điện Versailles với tư cách cố vấn tài chính để đàm phán khoản bồi thường chiến tranh. Bleichröder tư vấn về con số, ông đề xuất 4 tỷ franc; con số cuối cùng là 5 tỷ, khoảng 1/4 GDP nước Pháp. Sau đó ông cũng đứng ra xử lý kỹ thuật các khoản thanh toán phía Đức. Để ghi nhận công lao, ông được trao Huân chương Thập tự Sắt – phần thưởng quân sự nhưng lại dành cho một nhà ngân hàng.
Ở phía Pháp, chính Alphonse de Rothschild, người đứng đầu chi nhánh Paris, dẫn dắt tập đoàn phát hành trái phiếu để thanh toán khoản bồi thường đó. Công ty của Bleichröder sau đó tổ chức một tập đoàn Đức để mua lại những trái phiếu Pháp ấy.
Mạng lưới Rothschild thu lợi từ cả hai đầu của một giao dịch 5 tỷ franc – giao dịch đã định hình lại cán cân quyền lực châu Âu.
Sự ra đời của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS)
Sau Thế chiến thứ nhất, các nước họp tại Hội nghị Hòa bình Paris 1919 để định hình lại trật tự châu Âu và thế giới sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Hội nghị đã dẫn đến việc ký kết nhiều hiệp ước hòa bình, quy định các điều khoản hòa bình cho các nước bại trận.
Thủ tướng Clemenceau của Pháp muốn trả thù một cách rõ ràng cho chuyện xưa kia thua Đức. Họ đưa ra khoản bồi thường 132 tỷ mác cho nước Đức. Khoản tiền này đã phá nát nền kinh tế Đức, và cũng chính nó đã tạo ra lý do để thành lập Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) năm 1930 để quản lý lịch trình thanh toán.
Nhưng BIS được tạo ra không chỉ để giải quyết vấn đề bồi thường. Tại Hội nghị Tiền tệ Quốc tế Brussels năm 1892, Julius Wolf, giáo sư Đại học Breslau, đề xuất một dự án phát hành quốc tế các chứng chỉ thanh toán bù trừ được đảm bảo bằng vàng, được quản lý bởi một tổ chức chung ở một nước trung lập. Về thực chất, ông đang đề xuất đưa kiến trúc nhà thanh toán bù trừ lên tầm toàn cầu.
Tại cùng hội nghị đó, Alfred de Rothschild, cựu Giám đốc Ngân hàng Anh, đã trình bày một bài báo ca ngợi Phòng Thanh toán Bù trừ của Ngân hàng London là hệ thống đã đạt đến sự “hoàn hảo”. Ông cũng lập luận ủng hộ chứng chỉ giấy đại diện cho kim loại thay vì đúc tiền vật lý.
Đề xuất của Wolf về cơ bản đã đưa lên bình diện quốc tế đúng cái kiến trúc mà Alfred de Rothschild đang đứng đầu ở trong nước.
Khi nhìn lại, đặc vụ Rothschild đã định hình điều khoản bồi thường năm 1871 giữa Pháp và Đức, từ đó kéo theo một chuỗi hậu quả – nước Pháp nhục nhã, trả thù, đòi Đức bồi thường sau Thế chiến thứ nhất, rồi lập tổ chức mới. Điểm đến cuối cùng lại chính là thiết kế BIS được trình bày bên cạnh Alfred de Rothschild tại cùng một bàn hội nghị.
Nhà Rothschild đã lèo lái lịch sử theo đúng ý của họ.
BIS thiết kế để thực hiện thanh toán bù trừ các khoản giao dịch và nghĩa vụ tài chính giữa các quốc gia, làm trung gian cho dòng vốn xuyên biên giới. Chức năng này vốn trước đây do các ngân hàng thương mại đa quốc gia thực hiện, và nhà Rothschild đứng đầu trong số đó. Đặc vụ Bleichröder xử lý khoản thanh toán từ phía Đức trong khi Alphonse de Rothschild phát hành trái phiếu từ phía Pháp – đây chính là chức năng mà BIS đảm nhận.
Khi tổ chức này được thành lập năm 1930, cấu trúc quản trị ban đầu phản ánh rõ sự thiên vị tư nhân này. Toàn bộ phần đăng ký cổ phần của Mỹ không nhắc đến Cục Dự trữ Liên bang mà rơi vào tay tập đoàn ngân hàng tư nhân JP Morgan. Những năm 1930, gần 1/3 tổng vốn phát hành thuộc về các cổ đông tư nhân. Hình thức doanh nghiệp được chọn rõ ràng chính là để “cách ly Ngân hàng BIS khỏi sự can thiệp của chính phủ”.
Theo một bản ghi nhớ nội bộ của Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York năm 1929, kế hoạch của giới ngân hàng “trao quá nhiều quyền lực cho các cổ đông tư nhân” và sở hữu tư nhân “mang theo áp lực của lợi nhuận, trái với động cơ phục vụ công cộng”. Chính phủ Mỹ không phê chuẩn tư cách thành viên Hội đồng Cục Dự trữ Liên bang cho đến năm 1994. Mãi cho đến giai đoạn 2001-2005, các cổ đông tư nhân mới bị mua lại, và chỉ sau một cuộc chiến tài phán.
Trong hơn 70 năm, ngân hàng trung ương của các ngân hàng trung ương (BIS) vẫn luôn có lợi ích ngân hàng tư nhân ngồi trong cơ cấu cổ đông.
Thao túng quốc tế
Mô hình nhà thanh toán bù trừ còn di chuyển sang lĩnh vực chính trị quốc tế. Năm 1916, Leonard Woolf – người được Hiệp hội Fabian ủy thác và là bạn thân của nhà kinh tế học Keynes – xuất bản sách “Chính phủ Quốc tế” (International Government). Ông đã áp dụng cùng kiến trúc trung gian vào quan hệ giữa các quốc gia: các hiệp hội tự nguyện (như Liên Hiệp Quốc) làm trung gian giữa các chính phủ, có ban thư ký thường trực ở trên.
Như vậy trách nhiệm sẽ được phân bổ cho các nước, còn quyền lực sẽ tập trung về lãnh đạo của các tổ chức quốc tế. Các tổ chức quốc tế sẽ dần hút cạn chủ quyền của từng quốc gia riêng lẻ.
Hội Quốc Liên được xây dựng theo bản thiết kế này, và Liên Hợp Quốc kế thừa nó. Cùng một kiến trúc đã được triển khai cho cả tài chính lẫn chính trị – và bởi cùng những con người đó.
Giai đoạn mà phạm vi lưu trữ của Liedtke bắt đầu thưa dần – cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 – trùng khớp chính xác với bước chuyển thể chế này. Từ một mạng lưới đặc vụ tư nhân suốt một thế kỷ, mạng lưới đã chuyển tiếp vào các tổ chức chính thức:
- BIS cho thanh toán có chủ quyền,
- Hội Quốc Liên và sau này là Liên Hợp Quốc cho hòa giải chính trị,
- Uỷ ban Đối ngoại (CFR của Mỹ) và Chatham House (của Anh) cho phối hợp chính sách xuyên Đại Tây Dương.
Cecil Rhodes đã từng mong muốn xây dựng một mạng lưới tinh hoa Anh-Mỹ thao túng Bắc bán cầu. Ông đã được tài chính của nhà Rothschild chống lưng ngay từ lúc bắt đầu.
Tiểu sử của Cecil Rhodes đã được We Are 1 trình bày trong video “Thế lực ngầm: Màn ảo thuật chính trị hơn 100 năm”. Đây cũng là một mắt xích rất quan trọng.
Mạng lưới đặc vụ không biến mất, nhưng chức năng của nó đã thay đổi. Nếu các đặc vụ thế kỷ 19 trực tiếp quản lý việc kinh doanh của nhà Rothschild, thì những đặc vụ trong thế kỷ 20 lại quản lý các tổ chức quốc gia và quốc tế. Họ vẫn làm cùng một công việc, chỉ là ở một phạm vi rộng lớn hơn.
Tình báo quốc gia
Tầm với của gia tộc này còn vươn vào lĩnh vực tình báo quốc gia.
Victor Rothschild phục vụ cho MI5 (tổ chức của tình báo Anh) trong Thế chiến thứ hai. Căn hộ của ông ở London là điểm tụ họp của các thành viên Hội Tông đồ Cambridge – một hội kín mà thành viên đầu những năm 1930 “gần như toàn bộ” là những người cộng sản (theo hồ sơ của chính MI5).

Một số người thường lui tới đó, trong đó có Anthony Blunt và Guy Burgess, sau này bị phát hiện là đặc vụ Liên Xô. Woolf và Keynes cũng là thành viên của hội – như được ghi lại trong hồ sơ MI5 đã giải mật và các lời kể của cựu sĩ quan tình báo.
Victor Rothschild sau đó giữ chức giám đốc nghiên cứu của hãng Shell. Năm 1966, ông giao cho James Lovelock viết bài luận “Một số suy nghĩ về năm 2000”. Lovelock thừa nhận chính công trình đó đã đặt ông lên hành trình trí tuệ dẫn đến giả thuyết Gaia – quan điểm cho rằng Trái Đất giống như một sinh vật tự điều tiết. Nhiều thập kỷ sau, quan điểm này đã trở thành nền tảng khái niệm cho quản trị môi trường ở quy mô toàn cầu.
Nhà sử học Niall Ferguson đã xuất bản bộ sách hai tập “Ngôi nhà Rothschild” (The House of Rothschild, 1998-1999). Nhờ có quyền truy cập chưa từng có vào kho lưu trữ gia tộc, ông ghi lại bức tranh rộng hơn: nhà Rothschild duy trì quan hệ đối tác kinh doanh xuyên quốc gia “qua năm thế hệ bằng lòng trung thành trong gia tộc, các thỏa thuận bằng văn bản và hôn nhân nội tộc”. Từ 1824 đến 1877, 15 trong số 21 cuộc hôn nhân của nhà Rothschild là giữa các hậu duệ trực tiếp.

Adam Kuper đã phân tích tư liệu của Ferguson và viết một bài báo năm 2001 trên tạp chí “Social Anthropology”. Ông cũng đi đến con số tương tự: hơn 70% các cuộc hôn nhân của nhà Rothschild trong giai đoạn đó là giữa anh chị em họ nội với nhau, được sắp xếp để duy trì quan hệ đối tác giữa các chi nhánh.
Kuper kết luận nhà Rothschild có lẽ là “gia tộc ngân hàng duy nhất có chiến lược nội hôn rõ ràng như vậy”. Ông cũng nhận thấy mô hình này chấm dứt đột ngột khi các công ty cổ phần thay đổi môi trường ngân hàng – gia tộc không còn có thể đặt người nhà Rothschild ở mọi điểm nút trong mạng lưới, và vai trò của các đặc vụ tuyển qua hôn nhân hay từ bên ngoài trở nên quan trọng hơn.
Như vậy, qua bốn nghiên cứu học thuật độc lập, phương pháp của nhà Rothschilds hiện ra rõ ràng:
- đặc vụ được đặt ở những nơi gia tộc cần hiện diện nhưng không muốn cư trú;
- được tuyển qua hôn nhân hoặc phục vụ lâu dài;
- được nhận thù lao qua quyền truy cập thay vì lương;
- cố ý đa dạng về xuất thân;
- hiện diện công khai và có uy tín nhờ liên kết với gia tộc Rothschild – nhưng vĩnh viễn bị loại khỏi vòng tròn ra quyết định.
Các nguồn tài liệu này cùng phác họa một chiến dịch tình báo tư nhân – cho phép gia tộc hành động trước đối thủ cạnh tranh và trước cả chính phủ trong gần một thế kỷ.
Câu hỏi còn lại là: liệu phương pháp này có tiếp tục đến cuối thế kỷ 20 không?
Mối quan hệ với Epstein
Trong Hồ sơ Epstein mới công bố đầu năm 2026, có một email giữa Epstein và tỷ phú công nghệ Peter Thiel, trong đó Epstein nói rằng “Như anh đã biết, tôi đại diện cho nhà Rothschild”. Đây là một câu nói rất có quyền lực.
Epstein kết nối với nhiều các nhân vật có liên hệ với gia tộc Rothschild. Hồ sơ trong vụ kiện tại đảo Virgin thuộc Mỹ, cùng hồ sơ mới công bố của Bộ Tư pháp tháng 1/2026 – tổng cộng hơn 6 triệu trang – đã cung cấp một khối tài liệu đáng kể.
Mối quan hệ được ghi chép đầy đủ nhất là với Ariane de Rothschild – người xuất hiện trong khoảng 5.500 tài liệu trong kho lưu trữ, con số này chỉ thua một vài nhân vật khác.
Tên khai sinh của bà là Ariane Langner ở thủ đô của El Salvador, bà kết hôn với Benjamin de Rothschild thuộc chi nhánh Edmond năm 1999 – và về sau trở thành người đầu tiên không có dòng dõi Rothschild đứng đầu một tổ chức tài chính mang thương hiệu Rothschild. Trong thuật ngữ của Liedtke, bà là “người được tuyển qua hôn nhân”, tuy nhiên các thư từ cho thấy bà đóng vai trò nhiều hơn như vậy.

Theo các hồ sơ mới, Epstein kết nối với nhà Rothschild qua 3 tầng giao tiếp: từ Jacob Rothschild qua Ariane đến Epstein.
- Jacob khởi xướng – soạn thảo thư quản trị gia tộc, sắp xếp các cuộc giới thiệu, đề xuất các vụ sáp nhập với CEO ngân hàng.
- Ariane thực thi và báo cáo – mọi thông tin quan trọng từ Jacob đều được chuyển tiếp vào hộp thư của Epstein, thường kèm một dòng tin nhắn ngắn gọn.
- Epstein quản lý phần dưới – Ehud Barak, Larry Summers, mạng lưới tác chiến – và báo cáo lên Ariane, sau đó được chuyển lên cho Jacob.
Jacob không bao giờ lộ diện hay lộ tên. Người ký hợp đồng và hiện diện trong hoạt động là Ariane, còn Epstein là đặc vụ lo việc tình báo và tiến hành thực tế.

Ngày 30/8/2016, Boris Nikolic gửi cho Epstein hai chữ: “Jacob Rothschild?” Epstein trả lời: “Không.” Ông phủ nhận quen biết Jacob – trong khi đang nắm giữ hàng loạt email của Jacob được chuyển tiếp cho mình.
Epstein là một đặc vụ điển hình như khung phân tích của Liedtke:
Epstein được đặt ở những địa điểm – New York, Quần đảo Virgin thuộc Mỹ, Paris – nơi các ngân hàng Rothschild không kiểm soát trực tiếp nhưng có lợi ích đáng kể. Ông thu thập tin tình báo thuộc dạng đặc quyền nhất:
- biên bản họp Bộ Tài chính do Peter Mandelson chuyển tiếp khi đang làm Bộ trưởng Kinh doanh Anh;
- thông báo trước về gói cứu trợ Euro 500 tỷ euro;
- đánh giá chiến lược về nội tình giữa các chi nhánh Rothschild do chính Ariane gửi cho ông.
Tháng 3/2014, Ariane nói với Epstein rằng bà muốn bàn về Ukraine trong cuộc gặp sắp tới. Ông trả lời rằng tình trạng bất ổn “sẽ mang lại nhiều cơ hội, rất nhiều”. Đây chính là loại đánh giá chính trị mà Liedtke mô tả đã thay thế dữ liệu thị trường thô, kể từ khi điện báo phổ biến hóa thông tin giá cả.

Epstein được thù lao qua quyền truy cập vào luồng giao dịch và cơ hội đầu tư thay vì nhận lương.
Hợp đồng 25 triệu đô la với Rothschild trên danh nghĩa là cho “phân tích rủi ro” và “dịch vụ liên quan đến thuật toán”, nhưng trên thực tế là thù lao để giải quyết mâu thuẫn giữa tập đoàn Edmond de Rothschild và các cơ quan Mỹ.
Khoản phí tư vấn 158 triệu đô la từ Leon Black và khu bất động sản từ Wexner chuyển nhượng đều là thù lao cho dịch vụ trong một lĩnh vực cụ thể.
Mô hình thù lao đó cũng đóng vai trò là cơ chế kiểm soát. Khi thu nhập của một đặc vụ hoàn toàn phụ thuộc vào quyền truy cập liên tục vào mạng lưới, thì việc bị cắt đứt quyền đó chẳng khác gì bị hủy diệt về tài chính. Đặc vụ không cần bị đe dọa trực tiếp. Bản thân cấu trúc thù lao đã tự động đảm bảo lòng trung thành – đó là lý do sự phản bội “rất hiếm khi xảy ra, bởi hầu như không ai muốn làm mất lòng triều đại tài chính mạnh nhất thế giới” và mất đi lợi nhuận.
Epstein là một đặc vụ nhận tiền từ nhiều bên nhưng không thuộc về ai cả, dù là Jacob, Ariane hay Summers, vì thế ông ta có thể hoạt động tự do giữa tất cả họ. Liedtke mô tả cách sắp xếp này y hệt như trong thế kỷ 19: các đặc vụ “sẵn sàng nhận đề nghị từ mọi bên đặt hàng, không bị sa lầy vào các sự vụ địa phương”.
Epstein không nắm giữ chức vụ chính phủ, không điều hành ngân hàng, không lãnh đạo cơ quan tình báo, không giữ chức vụ học thuật. Sự trung thành của ông thuộc về mạng lưới – không phải với bất kỳ tổ chức quốc gia hay doanh nghiệp nào trong đó.
Mạng lưới xung quanh Epstein có sự đa dạng đáng chú ý: tình báo quân sự Israel, hoàng gia Anh, Bộ trưởng Tài chính Mỹ, những người sáng lập thung lũng Silicon, nhà khoa học từ Yale, chuyên gia mật mã Latvia, tổng thống Mông Cổ, các quỹ tài sản Vùng Vịnh… Mỗi nút mạng tiếp cận với những tổ chức và cá nhân riêng biệt không xen kẽ với nhau – phù hợp với việc nhà Rothschild cố ý tuyển dụng xuyên ranh giới xã hội, tôn giáo và quốc gia.
Và ranh giới vẫn được giữ nguyên. Epstein thiết yếu về mặt tác chiến, nhưng chưa bao giờ là người trong cuộc – ông chỉ là người “thu lợi đáng kể từ các mối quan hệ trong mạng lưới Rothschild” trong khi duy trì “lợi ích kinh doanh riêng”.
Khi đặc vụ nổi loạn
Vấn đề Belmont (người đặc vụ nổi loạn ở New York) cũng có phiên bản hiện đại. Khi Epstein bị từ chối khoản phí sau khi thiết kế công cụ đầu tư tác động (impact investing) cho Bill Gates và JPMorgan, các email cho thấy hành vi của ông bắt đầu thay đổi.
Trong kho lưu trữ xuất hiện các bản nháp email, trong đó cáo buộc về hành vi cá nhân của Gates, cùng một lá thư từ chức giả mạo được viết theo giọng Boris Nikolic – trưởng cố vấn khoa học của Gates – thú nhận sự đồng lõa. Chúng ta không biết liệu những email đó có được gửi đi hay không, nhưng sự tồn tại của chúng đã minh họa lỗ hổng mà Liedtke xác định: điểm thất bại duy nhất của hệ thống là khi đặc vụ tích lũy đủ hiểu biết riêng để có thể đe dọa chủ thể.
Belmont đã tự giải phóng bằng khoảng cách xa xôi. Epstein cố tận dụng lợi thế bằng cách tiết lộ thông tin. Epstein đóng vai trò tổng đài và ông biết mỗi nút mạng đã làm gì – vì chính ông đã tạo điều kiện cho tất cả các kết nối. Vì thế ông có thể quay ra chống mạng lưới khi bị từ chối khoản phí.
Nỗ lực nổi loạn đã không bao giờ hoàn thành. Ngày 29/7/2019, các luật sư của Epstein gặp công tố viên của FBI và toà án Quận Nam New York, nêu lên khả năng thân chủ họ sẽ hợp tác. Một Epstein hợp tác sẽ không phải là nhân chứng tầm thường. Ông sẽ là một bảng định tuyến tự ghi lại mọi luồng thông tin – mọi lời giới thiệu, mọi chỉ thị chiến lược, mọi luồng tin tình báo – bởi vì ông đứng ở vị trí duy nhất nhìn thấy tất cả chúng cùng một lúc. 12 ngày sau, Epstein được tìm thấy đã chết trong phòng giam.
Belmont – hoạt động ở khoảng cách khiến nhà Rothschild không thể kiểm soát – được chấp nhận tồn tại. Epstein – hoạt động ở khoảng cách có thể dẫn đến hợp tác với chính phủ – thì đã bị loại bỏ.
Tuyển dụng thông qua phục vụ lâu dài
Hôn nhân chỉ là một trong hai con đường tuyển dụng mà Liedtke nêu ra. Con đường thứ hai – phục vụ lâu dài trong nhà – cũng có không ít ứng viên đương đại.
Wilbur Ross dành 24 năm tại Rothschild Inc. ở New York trước khi trở thành Bộ trưởng Thương mại Mỹ.
Emmanuel Macron làm việc tại ngân hàng đầu tư Rothschild & Cie Banque trước khi bước vào Điện Élysée và ghế tổng thống.
Thierry Breton từng là cố vấn cấp cao tại Rothschild & Cie – chi tiết này ông bỏ qua trong hồ sơ Ủy viên EU của mình – trước khi tiếp quản danh mục thị trường nội bộ của Ủy ban Châu Âu.

Tại Anh, John Redwood chuyển từ đứng đầu Ban Chính sách của Margaret Thatcher sang làm giám đốc tại N.M. Rothschild;
Oliver Letwin theo cùng con đường, kế nhiệm Redwood trước khi trở lại chính phủ với tư cách Thủ tướng Công quốc Lancaster.
Tạp chí “The Spectator” ghi nhận mô hình này từ năm 1988, liệt kê các cựu nhân viên Rothschild rải khắp Phố Downing và Bộ Tài chính, đồng thời lưu ý rằng kinh nghiệm tư nhân hóa của ngân hàng – được tích lũy qua việc tư vấn cho chính phủ Anh – sau đó được gia tộc này xuất khẩu sang Tây Ban Nha, Malaysia, Singapore, Chile và Thổ Nhĩ Kỳ.
Tiêu chí đa dạng cũng có ví dụ riêng. Klaus Mangold, nhà công nghiệp Đức không có quan hệ gia đình với nhà Rothschild, chủ trì cả Rothschild GmbH lẫn Rothschild Russia & CIS trong hơn một thập kỷ, đồng thời giữ chức Lãnh sự danh dự của Liên bang Nga. Ông được báo chí Đức gọi là “Ông Nga”, ông tạo điều kiện cho dự án hạt nhân Paks II giữa Hungary và Rosatom, ông có thể bước vào những phòng họp ở Moscow và Budapest mà không người nhà Rothschild nào có thể tiếp cận được.
Các đặc vụ thế kỷ 19 hoạt động trong mạng lưới ngân hàng tư nhân của gia tộc. Những người kế nhiệm thế kỷ 20 và 21 hoạt động trong kiến trúc thể chế – các ngân hàng trung ương, tổ chức đa phương, ủy ban quản lý, các chính phủ có chủ quyền. Họ đang hoạt động ở quy mô quốc gia: Ross tại Bộ Thương mại, Macron tại Điện Élysée, Breton tại Ủy ban Châu Âu… Danh sách đặc vụ, xem ra, không hề ngắn lại theo thời gian.
Liệu điều này có đáng tin?
Thông qua các bằng chứng đã có, có thể khẳng định rằng gia tộc Rothschild đã điều hành một mạng lưới đặc vụ trong hơn một thế kỷ bằng một phương pháp có cấu trúc rõ ràng – và mạng lưới xung quanh Jeffrey Epstein thể hiện những đặc điểm tương tự đó với mức độ chi tiết đáng kể.
Việc tuyển dụng, tình báo, thù lao, sự đa dạng, sự hiện diện công khai, sự loại trừ vĩnh viễn khỏi vòng trong – tất cả đều ăn khớp. Điểm yếu duy nhất cũng vậy: khi đặc vụ biết quá nhiều. Và cách giải quyết điểm yếu đó cũng vậy – dù phiên bản hiện đại triệt để hơn nhiều so với quá khứ.
Liedtke kết thúc bài báo bằng một đánh giá về lòng trung thành: rất ít đối tác kinh doanh hay đặc vụ dám đối đầu với nhà Rothschild. Sự phản bội rất hiếm khi xảy ra, vì hầu như không ai muốn đánh cược một mối quan hệ có lợi với triều đại tài chính hàng đầu thời đại.
Jeffrey Epstein không còn ở đây để đưa ra bằng chứng. Nhưng phương pháp – được ghi lại qua 2 thế kỷ bởi 4 nghiên cứu học thuật độc lập – không cần đến suy đoán. Các nguồn tin đều trùng khớp với nhau.
Nhận rõ chính tà
Đọc câu chuyện về mạng lưới đặc vụ của nhà Rothschild, có thể nhiều người sẽ nghĩ rằng đó quả là một hệ thống được thiết kế thông minh và hiệu quả. Tuy nhiên nếu nhìn nhận từ góc độ đạo đức, các đặc vụ và nhà Rothschild đơn giản chỉ là lợi dụng lẫn nhau mà thôi.
Trên phim ảnh ngày nay, Hollywood thường mô tả các đặc vụ, điệp viên 007 như những anh hùng cứu thế. Tuy nhiên bản thân “đặc vụ” là một loại hành vi bất hảo và gian dối, họ sống 2 mặt, phục vụ cho một tổ chức, một quốc gia nhưng lại bán thông tin mật cho nhà Rothschild. Điều đó đồng nghĩa với việc phản bội lại nhân dân, phản bội lại quốc gia.
Ác hữu ác báo, những đặc vụ nói tới trong bài viết này có kết cục thế nào?
Sau khi Hồ sơ Epstein được công bố, nhiều nhân vật nổi tiếng bị điều tra, có người phải từ chức, có người xin lỗi công khai, có người bị bắt (như cựu hoàng tử Andrew, nam tước Peter Mandelson của Anh) hoặc thậm chí cố gắng tự tử bất thành (cựu thủ tướng Thorbjorn Jagland của Na Uy)…
Nhà Rothschild có thể đã thao túng rất nhiều thứ trong 200 năm, tuy nhiên một khi công chúng nhìn rõ những việc làm sai trái trong lịch sử của họ, đế chế của họ sẽ sụp đổ.
Quay lại Việt Nam một chút, có lẽ các đặc vụ cộng sản cũng sẽ đọc đến những dòng cuối cùng này vì chúng tôi biết những người ghi danh nhận tin của We Are 1 cũng có nhiều người làm nghề đặc vụ.
Tuy nhiên khi màn kịch chưa hạ, mong các vị làm nghề đặc vụ hãy dừng lại những hành vi gian ác của mình vì kết thúc của các đặc vụ chưa bao giờ có hậu. Trong cuộc chiến chính tà và cuộc Đại Thức Tỉnh ngày nay, lựa chọn của mỗi cá nhân đều đang được Thiên Thượng ghi lại. “Quay đầu là bờ”, phe cộng sản đang dần dần sụp đổ trên chính trường, hãy lui lại ngay bây giờ để không phải đi xuống vực diệt vong cùng ma quỷ cộng sản.
Ngày đó có thể sẽ đến sớm hơn quý vị nghĩ.
Mời đón xem các bài tiếp theo: đế chế của Maxwell, tổng đài viên của thế lực ngầm
We Are 1 luôn đồng hành cùng cộng đồng người Việt, mời quý vị chia sẻ đường link bài viết đến bạn bè thân quyến để nhiều người được biết và thức tỉnh. Xin đa tạ!
Các tin LIÊN QUAN
💁 TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN:
Quan điểm đưa ra trong video, bài viết của We Are 1 không có ý định xúc phạm bất kỳ tôn giáo, nhóm thiểu số, tổ chức, công ty, cá nhân hay bất kỳ ai.






